Nam Mô A Di Đà Phật

YOUTUBE PLAYLIST:

Khóa Học Kinh A Di Đà – Úc Châu – 1986  by VVI

***

Kinh A Di Đà 1986 p1  by vovionline

Kinh A Di Đà 1986 p2  by vovionline

Kinh A Di Đà 1986 p3  by vovionline

Kinh A Di Đà 1986 p4  by vovionline

Kinh A Di Đà 1986 p5  by vovionline

***

***

“Nam thật phương Nam lửa Bính Đinh” và “Nam thập phương Nam lửa Bính Đinh”, cái nào đúng?

“Phật hay thanh tịnh ở nơi mình” và “Phật hay thân tịnh ở nơi mình”, cái nào đúng?

***

http://www.vovi.org/index.php?option=com_content&view=article&id=52&Itemid=60

NGUYÊN LÝ NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

Niệm Nam Mô A Di Đà Phật là để cho chấn động lực chuyển chạy toàn thân, giúp khai thông ngũ tạng, ngũ kinh, và giúp khai mở phần điển tâm trên bộ đầu.

Nam là lửa. Mô là không khí. A là nước. Di là phát triển. Đà là mầu sắc. Phật là linh cảm.

Nam thật phương Nam lửa Bính Đinh, phát điển ra ngay trung tâm hai chân mày. Nơi đó hai luồng điển chấu lại phát hỏa sáng ra.

Mô chỉ rõ vật vô hình. Khi chúng ta nhắm mắt thấy được cảnh ở bề trên.

A Nhâm Quý gồm thâu nơi thận. Là thủy điển tương giao nơi thận thủy, khi cái thận bất ổn ngủ không được, mà thủy điển tương giao là khỏe mạnh ngủ yên.

Di giữ bền 3 báu linh tinh khí thần. Tinh khí thần trụ hóa đi lên thì con người nó ổn định.

Đà ấy sắc vàng bao trùm khắp cả. Chúng ta thanh tịnh rồi từ quang phát triển ra châu thân, bảo vệ châu thân, ánh vàng bao trùm khắp cả.

Phật hay thân tịnh ở nơi mình. Biết chuyện mình để sửa tiến, ăn năn hối cải, sám hối tiến hóa thì con người mới được thanh nhẹ.

***

***

From:  Thai Ta

Nam thật phương Nam lửa Bính Đinh

Phật hay thân tịnh ở nơi mình

Thái mới xem 3 versions Thầy giảng về NMADĐP rồi, qua video thì không thể bị lọc tiếng mà ảnh hưởng. Thái cũng không nghĩ accent của Thầy biến “thanh tịnh” ra “thân tịnh”.  Chị Mỹ Kim có duyên được Thầy giải thích há.  Vậy bây giờ chúng ta có đổi ý kiến không, hay vẫn “thanh tịnh” cho xuôi tai?

PS: Version xưa nhất Thầy mặc brief trắng, đoạn đề cập “thân tịnh” khoảng 6:47

***

From:  Thai Ta

Trung Buudien shared “Kinh A Di Ðà 1980.pdf” with you

KinhADiDa1980

July 29, 2014

Cám ơn anh Trung upload quyển sách Đức Ông Tư in năm 1980 nhé.  Phần “Xin Lưu Ý Người Đọc Kinh” mấy trang đầu rất có lý.  Sau đây chỉ là vài ý nghĩ của Thái thôi nhé.

1. Từ trang 29-31, rõ ràng “Phật hay thanh tịnh ở nơi mình”, nhất là khi diễn giải chữ Phật: “Phật hiệu Kim Cang ở giữa mình.  Hư không thanh tịnh hóa nên hình…” rồi câu chót chữ THANH lại rõ nét hơn “… Vạn sự quy về một chữ THANH”.  Có điều, THANH được nhấn mạnh không có nghĩa ám chỉ “Phật hay thanh tịnh ở nơi mình”

2. Nhưng không biết Ông Tư người Sa Đéc có accent mà người khác, Thầy Tám người nghe trực tiếp nhiều lần hay chỉ một vài lần, có thể lẫn lộn không?  Thái nghe băng thâu Ông Tư, Thái thấy không rõ chắc chắn được.

3. Đọc phần giới thiệu thì nói là Ông Tư viết sách này.  Đọc trang 21: “Người học theo Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí của Phật, tu luyện đúng mức thì trở nên thanh tịnh không còn bị Thập Tam Ma khuấy nhiễu nữa, hoặc là được xuất hồn về cõi thanh tịnh bái yết Phật, nên mới nói là Phật hay thanh tịnh ở nơi mình.”

4. Chúng ta có 1 dilemma, hoàn cảnh khó xử.  Theo sách Nguyễn Xuân Liêm, Ông Tư thì “thanh tịnh”.  Theo Thầy nói thì “thân tịnh”.  Chưa kể lời giải thích của Thầy với chị Mỹ-Kim “thân không tịnh thì làm sao thanh tịnh?” và nhận xét của cô Bê theo sát Thầy và hiểu ý rằng “Serenity Within”, thanh tịnh bên trong thì mới đúng.

Okay, bây giờ tới đoạn mà bạn đạo sẽ rất có khả năng mà… la Thái nhé.

Trước hết phải nói Thái chưa từng đọc qua sách Kinh A Di Đà này của Ông Tư.  Hồi trước Thái xem “Tôi Tầm Đạo” và “Thượng Đế Giảng Chơn Lý”, cùng những bộ Du Ký mà thôi.  Kỳ này cũng không đọc kỹ (vì thật sự ngôn ngữ xưa khó đọc quá).  Nhưng trong lúc đọc, scan lướt sơ, Thái để ý thấy 2 từ ngữ Định Thần và Thần Hồn (trang 38, trang 12 phần 2)

“Đà Phật là Định Thần” trang 126.

“Thần là thần hồn chơn điển của bản thể gọi là Chủ Nhơn Ông hay là Xá Lợi” trang 137.

“Bởi thế Phật Ngài cho Kinh Di Đà dạy 3 Pháp Môn là Soi Hồn, Pháp Luân Thường Chuyển và Định Thần” trang 144.

Trong trang 95 (không ghi số trang lúc scan) “Nam Mô là lửa Điển Tinh.  A Di là lửa Điển Khí.  Đà Phật là lửa Điển Thần.  Phật là tông chỉ huyền bí của nó.”

“Thần Hồn Chủ Nhơn Ông” trang 12 phần 2.

Sám Pháp Lý (Thái phải search để tìm hiểu thêm) là tiếng Phạn.  Nếu Ông Tư giải thích kinh A Di Đà qua PLVVKHHBPP và cho “Phật hay THANH tịnh ở nơi mình”; rồi Thầy Tám (không biết nghe lộn hay giảng theo ý Thầy) cho là “Phật hay THÂN tịnh ở nơi mình”, tới phiên Thái thì… (trống đánh kèn thổi lên) “Phật hay THẦN ĐỊNH ở nơi mình”, nghe cũng có lý không các bạn?

Lúc đầu tính đổi “thần tịnh” cũng được, đọc xuống trang 23 phần 2, Ông Tư giải thích “Chữ Tịnh là tinh khí dương, chữ Định là ý định phẳng lặng cho phần hồn” nên Thái “Thần Định” luôn!  Vả lại, Định Thần là Đà Phật (trang 126) và Thầy Tám sau sửa lại là pháp Thiền Định, nên thôi, “Phật hay thần định ở nơi mình” cho xong nghe các bạn.  Còn các bạn thì… Phật thế nào?

PS:  Thập tam ma là 13 con ma gì vậy có ai biết không cà?!

***

From:  Trương thế Dũng

Chào Thái!

Lúc Đức Thầy giảng Kinh A Di Đà trong phần Video Đức Thầy có chỉ thập tam ma ở trong mười ba huyệt đạo trong bản thể con người,

Thái nên tìm xem lại sẽ thấy.

***

From:  Tam Nguyen

Chào bạn.

Ông Phật là người thanh tịnh sáng suốt ,còn bạn xin lổi bạn , bạn có thanh tịnh sáng suốt hơn Ông Phật không ? bạn lại đi sửa lời của Ông Phật ? Stop đi bạn ơi .

***

From:  Thai Ta

Thầy đọc cả 2 chữ THÂN và THANH!

“Phật hay thần định ở nơi mình” là Thái đùa cho vui thôi, chứ đâu sửa kinh kêu người ta theo đâu cà.  Gửi cho các bạn clip này (by VVI) Thầy đọc trong Kinh A Di Đà, in trong sách là “THANH tịnh” mà đoạn đầu 1:13:24 Thầy đọc “THÂN”, đoạn sau 1:14:47 Thầy đọc “THANH”.  Nhờ có đề tài này mà lần đầu tiên Thái mới nghe series này.  Thank you bạn nào ra câu thắc mắc nhé.

Khóa Học Kinh A Di Đà – Úc Châu – P1

http://www.youtube.com/watch?v=MMk7QssmrGU

***

Trong clip này (by vovionline) Thầy đọc trong Kinh A Di Đà, in trong sách là “THANH tịnh” mà đoạn đầu 31:50 Thầy đọc “THÂN”, đoạn sau 33:08 Thầy đọc “THANH”.

***

***

From:  Hoàng Vinh

Kính gởi anh Tường, Hải Tân và Quý Bạn,

Cám ơn Hải Tân đã gởi email đến mọi người để tham vấn. Riêng tôi vừa đi xa về nay mới có thì giờ đọc kỹ các mail của quý bạn về vấn đề này. Ngày trước, khi chúng tôi được ở gần Thầy, những gì thắc mắc nhất là về phương pháp công phu, chúng tôi đều phải hỏi trực tiếp ý kiến của Đức Thầy và được Đức Thầy duyệt qua trước khi xuất bản – nhất là khi chúng tôi phải nhúng tay vào vấn đề dịch thuật và video về phương pháp công phu từ tiếng việt sang các thứ tiếng.

Sau khi tham vấn Đức Thầy, chúng tôi đã dịch như sau:

Phật is the Serenity Within. (dựa theo the Path và tất cả phương pháp công phu khác) (September 8. 1986) Bởi vì Phật là chấn động lực thanh tịnh, chứ không phải thân tịnh.
Bởi vì Điển quang là gốc, là vĩnh cữu, còn thân chỉ là phương tiện nhất thời.

Theo thiển ý của tôi, nếu nghe qua audio, đôi lúc cũng vẫn chưa đủ…bởi vì rất nhiều bạn đạo đã phát tâm lọc âm thanh….vì kỹ thuật đôi khi âm thanh bị ép, giọng nói cũng bị ép, nên…không tránh được tình trạng biến dạng.

Thân chào,
***

From:  Mỹ Kim

Thân gởi Hải Tân và nhóm thực hiện Thư Viện,

Đề tài này đã được giải quyết từ năm 2000.  MK có kể lại qua bài “Về thăm VN” đăng trong Đặc San Vô-Vi năm đó,  2 lần nói chuyện với Thầy trước và sau ĐH Thanh Tịnh ở Tiệp Khắc, và nghe nói Thầy cũng đã xem qua bài MK viết.  Xin trích lại đây 1 đoạn liên quan đến câu hỏi “Nam Mô A Di Ðà Phật : ” THANH ” hay ” THÂN ” ? ” THẬT ” hay ” THẬP ” ?”.  Lần đầu ở nhà Thầy khi bà Tám tặng cuốn lịch năm 2000 thì không có thu băng.  Nhưng lần sau ở thiền đường Jolicoeur (lúc đó Thầy chưa đổi làm thiền viện) thì thế nào cũng có thu băng, nhưng kiếm ra chắc không phải dễ.  Các bạn có thể hỏi anh Phan Cao Thăng, vì thời đó HAHVV Canada chưa dọn đi. Mỗi khi Thầy tới thì anh Tuấn đều có thu băng lời Thầy nói.

“ …  Lúc bác Hai kể bác tu theo nguyên lý Nam Mô A Di Ðà Phật, nghe bác đọc mấy câu thơ quen thuộc, tôi thật ấm lòng :  bác đúng là bạn đạo Vô-Vi !  Ðến câu “Phật hay THANH tịnh ở nơi mình”, tôi lại buột miệng nói : “Dạ THÂN tịnh, chứ không phải THANH tịnh, ông Tám có xác nhận rồi”.  Thật vậy, hôm bà Tám tặng tôi quyễn lịch năm 2000 có bài thơ “Cười”, Thầy vui cầm quyễn lịch lên đọc tình cờ trúng nhằm trang có bài thơ Nam Mô A Di Ðà Phật, Thầy cho chúng tôi biết có mấy chổ viết sai, như “Nam THẬT phương Nam lửa Bính Ðinh” chứ không phải “Nam THẬP phương Nam lửa Bính Ðinh”, và “Phật hay THÂN tịnh ở nơi mình”, chứ không phải “Phật hay THANH tịnh ở nơi mình”.  Lúc đó trong lòng tôi thấy câu thơ hơi bị mất đi phần hoa mỹ, nhưng không dám hỏi nhiều vì Thầy còn phải sửa soạn ra phi trường, chỉ biết chuyển lời Thầy lại cho ban kinh sách để điều chỉnh lại trong những lần tái bản tới.

Rốt cuộc tôi không biết trả lời sao khi bị chú tôi phản đối, vì chú thích tu “THANH tịnh” theo ông bác chứ không thích tu “THÂN tịnh” theo Thầy !

Vậy là trở về Montreal tôi lại cầu cứu sư phụ. Thầy trả lời giản dị có một câu : “Xưa nay ai tu cũng muốn THANH tịnh, nhưng THÂN không tịnh làm sao đạt được THANH tịnh ?”

Thì ra “THÂN tịnh” là bí quyết để đi đến “THANH tịnh”.  Tu Vô-Vi không cần văn chương hoa mỹ, ngôn ngữ thế gian chỉ là phương tiện để giúp hành giả tu có kết quả.  Tối hôm đó, tôi ngồi thiền mà THÂN tự nhiên thật tịnh, không còn cảm nhận được thân, chỉ thấy được sự THANH tịnh vui nhẹ lạ lùng, không biết nhờ thắc mắc được giải tỏa thỏa đáng, hay được Thầy hỗ trợ bằng kinh vô tự cho tôi có kinh nghiệm bản thân mà thấu đáo hơn trong việc hành thiền …”

***

From:  trungbuudien

Thầy có bố là người Quảng Đông, mẹ là người Bình Định, nên Ông Thầy nói giọng người Bình Định pha lẫn giọng Quảng Đông.

2 câu trước thì đúng:

“Nam thật phương Nam lửa Bính Đinh”

“Phật hay thanh tịnh ở nơi mình”

Ông Thầy hay nói : ” Tu bằng ý bằng trí ” hay là ” tu bằng trí ý ”

Vì vậy bạn đạo nên dùng trí để suy nghĩ về lời giảng.

Xem TBPTDN # 753, trang 15/21, từ trên xuống, hàng chữ thứ 18, Thầy chỉ cách liên lạc (communicate) với Thầy. Bạn đạo muốn nói chuyện với Ông Thầy thì qua cách đó để liên lạc.  Bye bye

***

From:  Luan Le

Chào các bạn đạo,

Tôi xin góp ý về hai câu này:

1. Tôi nghĩ là Nam thập phương Nam lửa Bính Đinh có ý nghĩa hơn bởi vì chữ ‘thập’ ở đây là chỉ về thập thiên can gồm có : giáp ất bính đinh mậu kỷ canh tân nhâm quý.Còn Chữ ‘thật’ nó không mở rộng ý nghĩa  ra cho câu này.

2. Tôi nghĩ là Phật hay thanh tịnh ở nơi mình đúng hơn bởi vì từ ‘hay’ ở đây, theo nghĩa cổ xưa là nói về năng lực, có khả năng. Vì vậy nói rằng Phật hay thanh tịnh … là đúng hơn, chứ nói rằng phật hay thân tịnh thì cái ý nghĩa nó giới hạn hơn, bởi vì phật là nói về tâm chứ không nói về thân. Có chữ ‘thân’ trong câu này là lạc quẻ!

Thân mến,  Luận

***

From:  Tam Nguyen

Các bạn hảy đọc kỷ: Nam thập phương nam lửa bính đinh , trong lúc Đức Thầy giải thích là  riêng cho chị Mỹ Kim , đó là bài của chị Kim ,còn bây giờ đưa lên nói chử thật là đúng , rồi phổ biến ra như vậy ,để mọi ngừời hiểu sai .thì nên suy nghỉ lại

***

From:  Thai Ta

Khóa Học Kinh A Di Đà – Úc Châu – P3

http://www.youtube.com/watch?v=HECIJ8QvGo8

Đoạn 1:03:14 Nam thật phương Nam lửa Bính Đinh

Từ đoạn 1:09:57  Niệm Nammmmmmm.

Từ đoạn 1:25:00  Cốt chỉ của Lục Tự Di Đà

***

From:  Nhóm thực hiện Thư Viện Vô Vi.

Hello anh Tường, và kính chào quý bạn đạo,

Cảm ơn anh Tường chia sẻ. Thì ra là vậy! Trong CD niệm phật của Đức Thầy, chữ “thật” và “thập” không cần gì để bàn nữa, vì Đức Thầy đã chỉnh lại là “thật phương…” ngay sau khi đọc “thập phương…”. Còn chữ “thân” và “Thanh”, Đức Thầy phát âm nghe như là “thân tịnh”. Nhưng không biết đó chỉ là chuyện phát âm của Đức Thầy mà “thanh” có thể nghe như “thân” hay không?

CD này cũng có ở đây, bạn đạo có thể đọc hoặc nghe qua player bên phải của trang

http://www.vovilibrary.net/search/readTranscript.php?ItemID=19840000L2

Dù sao đi nữa, nhóm VVL cũng sẽ không có quyết định gì, vì hiện tại không có chương trình tái bản kinh A Di Đà. Các câu hỏi này được nêu lên trong khi bạn đạo chép băng, duyệt băng, và thấy có sự không thống nhất trong một số bài chép. Chúng ta không phán xét đúng sai, chỉ mong rằng sự thảo luận hào hứng và thành tâm của huynh đệ tỉ muội chúng ta trong những ngày qua có thể giúp thêm ý kiến, giúp “động não” nhóm biên tập viên nào trong tương lai có ý định tái bản cuốn kinh báu này có quyết định chuẩn mực hơn.

Và để ghi nhận đóng góp của tất cả quý bạn đạo trong những ngày qua, các bạn VVL đã gom lại tất cả các email trong file đính kèm !

Comments_KinhADiDa

Người ta nói “9 người 10 ý”, các diễn đàn [vovi] và [VVL] chúng ta chắc cũng đôi ba trăm người, mà chỉ có bao đấy ý thì cũng là “quá tử tế, quá vui” rồi !  Cảm ơn quý bạn đạo đã góp ý về đề tài này.

Quý bạn đạo kính mến,

Kinh A Di Đà là cuốn Kinh quan trọng và quý báu vô cùng về Điển Quang, nhất là đoạn giảng về Lục Tự Di Đà. Thư Viện Vô Vi  (VVL) chỉ muốn thống nhất việc viết sao cho chính xác với những gì mà  Đức Tổ Sư đã để lại  và  đang cố gắng tìm để có được bản gốc của cuốn Kinh này để tránh sự “tam sao thất bổn” về sau.

Văn tự thì có thể giải thích theo nhiều cách, theo nhiều trình độ góc cạnh khác nhau, kiểu nào cũng có lý cả. Nhưng khi có nhu cầu ấn tống kinh sách thì phải nằm trong khuôn khổ của văn tự, hoặc là chữ này hoặc là từ kia, không thể hai ba từ, hai ba kiểu cùng lúc được. Trong những trường hợp đó thì phải lựa chọn thế nào là đúng nhất? Những vị đã có thanh điển bộ đầu sẽ không gặp trở ngại bởi văn tự, và sự bàn bạc này không cần thiết mấy. Nhưng khi chúng ta chưa đến giai đoạn đó, sai lạc của văn tự có thể làm chuyện học đạo khó khăn. Cần phải có sự thống nhất và giảm thiểu nạn tam sao thất bổn là vậy.

Riêng về đóng góp của chị Mỹ Kim (về lời Thầy xác nhận là “thật phương” và “thân tịnh”) là rất quý báu; nhưng nếu có được băng giảng  có thâu lời Thầy nói thì quý hơn;  vì đôi khi Thầy giảng cho một vài người mà không thâu băng thì có thể là Ngài chỉ muốn dạy cho chính  người  đó mà thôi?!  Mong quý bạn nào có được đoạn băng đó thì xin gửi cho VVL để làm tài liệu.

Xin phép được kết thúc đề tài thảo luận này ở đây nhé.

Chân thành cảm tạ quý bạn đạo, và kính chúc tất cả được an lành,

www.vovilibrary.net

***

From:  Nhóm thực hiện Thư Viện Vô Vi.

Kính chia sẻ với quý bạn đạo, đoạn audio nói chuyện mới đây của Thầy Hai Sa Đéc với một số bạn đạo VN.

http://www.vovilibrary.net/search/searchItemDisplay.php?ItemID=20140202Q1

Tâm tình của một bạn đạo trong nhóm VVL:

“…Nghe rồi mới thấy cuốn Kinh ADĐ là quý vô cùng! Đức Di Đà đã chiếu điển để Đức Ông Tư giải nghĩa Kinh, giúp người tu hiểu hơn và được phát quang toàn thân. Đúng như Thầy Hai nói: “KADĐ dạy trong cái bản thể , không ngoài.  Nếu dụng chữ nghĩa để đọc sẽ mệt óc lắm!…”

Quý thương,

***

http://www.scribd.com/doc/137178904/%C4%90%E1%BB%97-Thu%E1%BA%A7n-H%E1%BA%ADu-Kinh-A-Di-%C3%90a-568-trang-2012

http://www.voviphatphap.org/docs/kinhsach.html

Kinh A Di Ðà / Đỗ Thuần Hậu (568 trang) ISBN 978-1-933667-23-2
trang 20: “Phật hay THÂN tịnh ở nơi mình”

trang 31 – trang 33: “Phật hay THANH tịnh ở nơi mình”

NAM thuộc Cung Ly lửa Bính Đinh
MÔ là chỉ rõ vật vô hình
A gồm Nhâm Quý an nơi thận
DI giữ bền chặt ba báu linh.
ĐÀ ấy sắc vàng trùm khắp cả
PHẬT hay thanh tịnh ở nơi mình
Hống Diên hai tám hòa nên một
Rồng Cọp thâu về tợ nguyệt tinh.

***

http://www.vovijapan.com/kinhsach/book/kinhdida.pdf

trang 37, 65:  “Phật hay THÂN tịnh ở nơi mình”

trang 66: Phật Hiệu Kim Cang Ở Giữa Mình  /  Hư Không Thân Tịnh Hóa Nên Hình

***

From:  Trương Thế Dũng

Chào Anh Chị !

Trước  tôi xin gợi ý với anh Lê-Văn trong quyển kinh A DI ĐÀ Đức Thầy đã giảng ở trang 66 và Dức Ông Tư đã giảng ở trang 82 anh nên tìm lại xem.

Trên kia có bạn nói về 8 hướng mà Đức Thầy thường nói đến đó là  Đông Nam , Tây Nam , Đông Bắc , Tây Bắc còn lại là bốn hướng Đông,Tây,Nam Bắc….

Trong hai câu: Nam thật phương nam lửa bính đinh- Phật hay thân tịnh ở nơi mình. theo tôi được biết chử Thật là đúng hơn (xem kinh A DI ĐÀ trang 66 )

Còn chử Thân ở đây không phải là thân xác phàm nhơn  bởi có câu:

Phật Hiệu Kim Cang Ở Giữa Mình

Hư Không Thân Tịnh Hóa Nên Hình

Đây nói về Thân hư không tôi nghĩ đó là phần CHƠN HỒN hóa nên THÂN

Vài lời góp ý cùng Anh Chị. Rất cám ơn !

***

From:  Thai Ta

Trong Kinh A Di Đà 1980, trang 31, “Hư không thanh tịnh hóa nên hình”. Lúc Thầy đọc, cũng vẫn đọc là “thanh” .  Coi clip này của VVI “Khóa học kinh A Di Đà, P3”   1:02:27

***

do-thuan-hau-vovi2

Kinh A-Di-Đà Chú-Giải

Tác giả : Cụ Đỗ Thuần Hậu

Thời gian phát hành : 07-1967

Nơi phát hành : Việt Nam

kinh-adida-chugiai-dothuanhau

Kinh-ADiDaChuGiai-DoThuanHau

http://www.vovinet.org/vn/led/2014/ptdn999.pdf

http://www.vovilibrary.net/search/searchItemDisplay.php?ItemID=19670700B1

***

***

From:   Lan-Anh Nguyen

Cảm ơn Thái đã tìm kiếm và cho xem/nghe những đoạn video và  băng giảng của Thầy liên quan đến đề tài “Nam thật phương Nam lửa Bính Đinh” và “Nam thập phương Nam lửa Bính Đinh” (cái nào đúng?).

Ngày xưa lúc mới đọc các sách, thấy viết “Nam thập phương Nam lửa Bính Đinh”, tôi thấy câu này có vẻ không đúng nghĩa, vì Nam là Nam, chỉ là một hướng chứ làm sao mà là mười (thập) hướng được? Trừ trường hợp tác giả ý muốn viết như vầy:

Nam, trong thập phương, thì Nam là lửa Bính Đinh.

Sau đó thì được nghe Thầy đọc khá rõ “Nam thật phương Nam lửa Bính Đinh”, thì tôi thấy câu này rõ ý hơn.  Khi làm thơ thì người ta ít dùng các dấu chấm phết, và những chữ “thì”, “là”, “mà” cũng cần được hiểu ngầm khi câu thơ cần phải được viết ngắn gọn cho đúng số chữ và vần điệu.  Trong trường hợp của câu này, chúng ta có thể hiểu ngầm những cái dấu phết và chữ “là”, như sau:

Nam, thật phương Nam, là lửa Bính Đinh.

Nói tóm lại, hai câu này đều cùng một ý muốn nói hướng Nam thuộc về lửa (hành Hỏa, theo luận của ngũ hành).  Tuy nhiên câu “Nam thật phương Nam lửa Bính Đinh” nhấn mạnh được ý muốn nói hướng “Chánh Nam” (chứ không phải xeo xéo, hay trịch thành Đông Nam hay Tây Nam).

Vài hàng đóng góp với các bạn cho vui.

Hôm nay kể cho các bạn nghe 1 câu chuyện vui nhe.  Tuần trước tôi tình cờ được biết đến campaign (chương trình) ” Commas Save Lives. Let’s Eat Grandma. Let’s Eat, Grandma.” .  Tạm dịch tiếng Việt: “Dấu phẩy cứu được mạng sống.  Chúng ta hãy ăn Bà nội.  Chúng ta hãy ăn, Bà nội.”.

Mến chúc các bạn một ngày vui vẻ!  🙂

***

***

From:  Mỹ Kim

Thái, anh Trung, Hải Tân và các bạn thân mến,

Chuyện “Thật phương Nam …” và “Thập phương Nam …” thì đã rõ ràng quá rồi, MK không định nhắc lại, nhưng vì có những bạn vẫn còn nhất định “thập” qua các emails kèm theo dưới đây, nên cô đầm Agnes sáng nay ở thiền viện Jolicoeur cho biết đã theo dõi bạn đạo VN bàn bạc đề tài này trong thời gian qua, và cô cho biết là trong cả 2 bản tiếng pháp và tiếng anh qua CD NMADĐP và DVD Thầy dạy thiền, kể cả lời Thầy giảng bằng tiếng pháp không qua thông dịch, … tất cả đều không có chỗ nào nói tới số 10 (ten, dix = thập), mà chỉ có những chữ liên quan đến chữ “thật” như là vraiment, réellement, … : http://tvjolicoeur.jimdo.com/

Trở lại câu hỏi số 4 của Thái :  “4.  Chúng ta có 1 dilemma, hoàn cảnh khó xử.  Theo sách Nguyễn Xuân Liêm, Ông Tư thì “thanh tịnh”.  Theo Thầy nói thì “thân tịnh”.  Chưa kể lời giải thích của Thầy với chị Mỹ-Kim “thân không tịnh thì làm sao thanh tịnh?” và nhận xét của cô Bê theo sát Thầy và hiểu ý rằng “Serenity Within”, thanh tịnh bên trong thì mới đúng”.

Tối hôm qua, MK nghe đoạn audio “nói chuyện mới đây của Thầy Hai Sa Đéc” theo link VoViLib của Hải Tân gởi, kể về quá trình thực hiện cuốn Kinh A Di Đà thời ông Tư tiếp điển Đức Phật A Di Đà, mới biết là bản gốc mà anh Trung post lên mạng cho mọi người xem là bản đã được ông N-X-Liêm chỉnh sửa theo ý của ông, vì Thầy Hai kể là có tham gia vô việc chép bản thảo lúc Đức Phật A Di Đà giáng điển. Như vậy, cũng có khả năng là ông N-X-Liêm cũng nghĩ như đa số chúng ta, nên chữ “thật phương nam” thì giữ nguyên, còn chữ “thân tịnh” thì chỉnh lại là “thanh tịnh” là chữ quen thuộc cho bình thường và suôn sẽ hơn.

Còn việc Thái nói “ … Thầy đọc trong Kinh A Di Đà, in trong sách là “THANH tịnh” mà đoạn đầu 1:13:24 Thầy đọc “THÂN”, đoạn sau 1:14:47 Thầy đọc “THANH”.…” thì như ý kiến chị B và kể cả các bản tiếng anh tiếng pháp (dịch là serenity hay sérénité, tức là “thanh tịnh” ) thì MK hiểu là cả 2 chữ đều đúng hết, điểm khác nhau mà Thầy dành riêng cho bạn đạo VN (khi dịch cho bạn đạo ngoại quốc thì giản dị đi 1 chút) :

Thanh Tịnh : Kết quả

Thân Tịnh   : Điều kiện, cách thức, bí quyết … để đạt được kết quả “Thanh Tịnh”.

Cho nên Thầy mới nói “Xưa nay ai tu cũng muốn THANH tịnh, nhưng THÂN không tịnh làm sao đạt được THANH tịnh ?” . Cho nên đâu có gì sai khi Thầy đọc “Thanh Tịnh” hay “Thân Tịnh”, và ông N-X-Liêm cũng như hầu hết chúng ta đều chọn “Thanh Tịnh” nhưng Thầy muốn chúng ta chẳng những chọn kết quả mình thích là “Thanh Tịnh” mà còn phải có khả năng đạt được kết quả đó, bằng cách là phải “Thân tịnh”.  Tóm lại Thầy thì chuyễn cho chúng ta kinh nghiệm thực hành “Thân tịnh” của Thầy và có lẽ cũng là kinh nghiệm thực hành của ông Tư, của Phật A Di Đà, … , chứ lý thuyết “Thanh Tịnh” thì ai cũng biết cả rồi.  Cho nên kinh nghiệm của bác Năm Trung Đoàn qua 3 trang bài viết về “thân ánh sáng” mà MK gởi cho các bạn xem lần trước đó, cũng là nhờ thực hành “thân tịnh” nên mới đạt được ánh sáng “thanh tịnh”.

***

From:  Thai Ta

Wow, chị Mỹ-Kim giải thích hay ghê.  Mến tặng chị và các bạn bài thơ nhe.  Chắc có điển “người xưa” nên ra thơ thất ngôn bát cú mấy ngày nay!

Thập, Thật, Thanh, Thân  /  Tạ Thái, 2014

Thầy Tám Ông Tư đã dạy ta

Cảm thông Lục tự A Di Đà

THẬP phương tám hướng cùng trên dưới

Nam THẬT Bính Đinh lửa hợp hòa

THANH tịnh xuất hồn về cõi Phật

Lắng yên THÂN tịnh giữa ta bà

Trong dòng kinh điển luôn ghi nhớ

Chân lý trong mình chẳng phải xa.

http://xaydungvovi.org/thaita/tam-tinh-tho/

***

From:  Thai Ta

http://xaydungvovi.org/posts2/tim-thay-qua-video/

Đề tài thảo luận mới nhất trên Diễn Đàn Vô Vi về chữ “thật phương, thập phương”, “thanh tịnh, thân tịnh”, tôi cũng đóng góp ý kiến.  Thật sự đối với tôi, miễn chữ nghĩa không trái với ý thì sao cũng được.  Đức Phật Thích Ca không viết sách.  Jesus Christ không viết sách.  Chữ nghĩa là phương tiện tạm, không thể nào toàn hảo được.  Đọc Thầy giải thích Nam Mô A Di Đà Phật, không đồng giá trị đối với tôi khi nghe Thầy niệm Nammmm… Môôôô…. Aaaaa….  Diiiiiiiii…. Đàààà…. PHẬT!  Còn về điển giới, trạng thái Nam Mô A Di Đà Phật chỉ có thể tự mình chứng nghiệm mà thôi.

***

From:  trungbuudien

Tôi nghĩ vẫn chưa xong !  *:P tongue*:P tongue*:P tongue

Khi nào các bạn liên lạc  được với Đức Thầy hay Đức Tổ Sư để verify cho rõ thì lúc đó mới xong !  Tôi có cảm tưởng các bạn  ” tránh né ” liên lạc với Đức Thầy hay Đức Tổ Sư !

Chúc may mắn,

***

From:  Thai Ta,  August 5, 2014

Cảm nhận riêng về “Thập, Thật, Thanh, Thân”

Anh Trung cứ kêu người ta lên hỏi trực tiếp Thầy Tám và Ông Tư không biết bao nhiêu % đùa, bao nhiêu thật?  Người có trình độ làm được vậy không chừng có thể giảng giải Kinh A Di Đà cách khác nữa. Đây là cảm nhận riêng của Thái, chứ Thái chưa xuất hồn được đâu nhe.  Kinh A Di Đà tiếng Phạn của đệ tử Phật Thích Ca ghi lại.  Rất có thể sao bản dịch mà Ông Tư đọc được là Chinese.  Ông Tư diễn giải không biết bao nhiêu phần là từ sách, bao nhiêu phần theo Pháp Vô Vi.  Thái cảm nhận Đức Tổ Sư dùng từ “thập phương” và “thanh tịnh”.  Đức Thầy dùng từ “thật phương” và “thân tịnh”.  Diễn giải thì không thể nói ai sai ai đúng.  Ví dụ như kêu bạn tả biển là như thế nào, bạn không thể dùng văn để cho người khác biết hết về biển.  Hay là tả mùi vị, màu sắc, làm sao đọc chữ mà ngửi được, thấy được.  Còn như nói điển hóa văn, hay là văn hóa điển, áp dụng vô trường hợp giảng giải kinh A Di Đà này, còn phức tạp, tinh tế hơn.  Đọc kinh A Di Đà thôi có thấy điển rút bộ đầu không?  Giống như bạn có thể biết tất cả về máy móc xe hơi nhưng bạn không lái thì không tới nơi.  Người khác không biết nhiều như bạn, nhưng người ta lái xe (hành pháp) thì sẽ tới.

Theo Thái thấy, nếu trong tương lai có in lại Kinh A Di Đà của Ông Tư giảng giải, nên dùng “THẬP phương” và “THANH tịnh”.  Còn viết lại lời giảng của Thầy nên dùng “THẬT phương” và “THÂN tịnh”.  Có thể thêm ngôi sao chú giải riêng về hiện tượng khác biệt này.

***

***

From:  Yeunu

1.Trong kinh a di đà ông Tư có nói bài kệ lục tự là của pháp vô vi của Cao Minh TS
2.Trang web trích dẫn trên không phải của Cao Đài.Nó giống như là lẩu thập cẩm, gom rất nhiều nguồn mà không ghi xuất xứ.
YN.

“‘My-Kim Nguyen thi’ kimnguyen@… [vovi]” <vovi@yahoogroups.com> đã viết:

Cám ơn anh Hùng cho thêm thông tin mới. 

MK mới xem qua 3 bài viết bên Cao Đài về những bài kệ Lục Tự Di Đà, đúng là khá giống bài của ông Tư :

http://antruong.free.fr/NamMoADiDaPhat.html

http://antruong.free.fr/DiDaDieuPhap.html

http://antruong.free.fr/phapbaodankinh4.html

***

From:  Thai Ta

Các bạn đạo có biết tài liệu gì về Cao Minh Thiền Sư không há?  Thái search thử thì thấy có sách nầy.

THÍCH GIA CHƠN GIẢI – Cao Minh Thiền Sư (1921)

***

***

http://www.vovilibrary.net/basics/thePioneers.php?sel=17

(…) Pháp tu này không có sư phụ và đệ tử, chỉ có người đi trước hướng dẫn, dìu dắt, hay chia xẻ với người đi sau. Hai trong những người đi trước đó – những bậc thầy khả kính trên đường tu theo Pháp Lý Vô Vi – là Đức Tổ Sư Đỗ Thuần Hậu và Thiền Sư Lương Sĩ Hằng. Lúc sinh thời, hai vị này còn có nhắc đến Đức Cao Minh Thiền Sư và ‘Thầy Hai’. Ngoài ra cộng đồng Vô Vi cũng có những bạn bè đồng tu, mà việc gặp gỡ để trao đổi học hỏi sẽ tùy ở duyên tu học của mỗi hành giả. (…) 

 

http://www.vovilibrary.net/basics/thePioneers.php?sel=16

(…)  Vì lúc thiếu thời, cụ Đỗ Thuần Hậu gặp nhiều hoàn cảnh éo le, nên tâm trí cụ lúc nào cũng suy xét về cuộc đời và kiếp người. Do đó, cụ quyết tâm tầm đạo. Sau khi tu theo Cao Minh Thiền Sư một thời gian, cụ vẫn chưa hoàn toàn hài lòng vì vẫn chưa được giải đáp hết thắc mắc. Cụ trở về gia đình và tự nghiên cứu thêm Pháp lý Vô Vi. Trong thời gian này, nhiều lúc cụ định thần và thường thấy hình Đức Phật hiện ra trên vách. Cụ lấy làm lạ nên càng cố tâm tu luyện. Lúc khởi công tu thì cụ đã 55 tuổi, tâm không sợ chết, sợ nghèo đói, cụ quyết chí tu để xuyên phá bức màn Vô Vi bí mật hầu tiếp xúc với Phật Tiên mà học Đạo. Nhờ lòng chí thành mộ Đạo, cụ Đỗ Thuần Hậu đã ngộ được Pháp lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp. Cụ đã xuất hồn về cõi Vô Vi và đã được học đạo trực tiếp với Đức Phật như lời cụ đã tự thuật trong quyển “Phép Xuất Hồn”. (…)

***

From:  Yeunu

CMTS còn 1 quyển sách “Tiên Phật hiệp tông chân giải”, nói về nguồn gốc đạo vô vi.  Đời nhà Minh có vị quan tên Lý Tiên Hiền  từ quan đi tầm đạo, được Vô Cực Thiền sư thu nhận làm môn đệ, đặt pháp danh là Cao Vạn Thiện. Vô Cực có 2 đệ tử, văn là Cao Vạn Thiện, võ là Cao Bá Nhẫn.  Đến đời Cao Minh thiền sư cũng có nhiều đệ tử, đều có pháp danh bắt đầu bằng chữ Cao, trong đó có Cao Hữu Hiền ( tức ông Tư).

***

***

From:  Nhóm Thực Hiện Thư Viện Vô Vi  http://www.vovilibrary.net

Kính thưa quý bạn đạo năm châu,

Thư Viện Vô Vi rất hân hạnh giới thiệu đến quý bạn đạo năm châu bản chụp hình (scan) của cuốn Kinh A Di Đà Chú Giải và Phật Học Vấn Đáp, được xuất bản lần đầu tiên tại Việt Nam năm 1967. Đây là cuốn sách mà chính Đức Tổ Sư đã trao lại cho Thầy Hai tại Sa Đéc trước khi Ngài viên tịch.

http://www.vovilibrary.net/search/searchItemDisplay.php?ItemID=19670700B1&view=on

Theo những gì Thầy Hai kể lại, bản viết tay mà chính Thầy Hai đã chép theo lời giảng của Đức Tổ Sư (khi Ngài được Chư Phật xuống Điển giảng Kinh), Thầy Hai đã trao lại cho một vị giáo sư ở Sài Gòn. Rất tiếc, vị đó đã qua đời từ lâu và hiện nay không ai biết bản viết tay đó đã thất lạc về đâu. Cho nên ấn bản 1967, là bản xưa nhất mà cộng đồng Vô Vi chúng ta có hiện nay.

Để tránh nạn tam sao thất bổn, mong rằng ấn bản đầu tiên này sẽ luôn luôn là tài liệu tham khảo căn bản và quan trọng cho mọi tái bản của cuốn kinh trong tương lai.

Nói về tầm quan trọng của cuốn Kinh A Di Đà Chú Giải, chắc chắn quý bạn đạo cũng đã từng nghe Đức Thầy giảng dạy. Xin trích dẫn lại vài câu trong khóa Kinh A Di Đà tại Úc Châu năm nào: “…Vỏn vẹn có cuốn Kinh A Di Đà là chánh kinh… Sau này các bạn nắm cuốn đó làm “Phương Chỉ Nam” để các bạn tự tu tự tiến. Đây là chìa khóa luôn luôn thường trực và chư Phật luôn luôn chiếu điển cho các bạn… Nếu các bạn ý thức và đọc được, thực hành theo đúng ba pháp Soi Hồn – Pháp Luân -Thiền Định để ăn khớp với cuốn Kinh A Di Đà này, rồi các bạn sẽ diện kiến chư Phật, chư Tiên không có khó khăn… Cho nên cái Lục Tự Di Đà, người tu Vô Vi là chỉ có quan trọng sáu chữ này thôi!!!…Tu Vô Vi là phải thực hành, còn người nào bám vào lý thuyết người đó không đi tới đâu hết!…”.

Gần đây, Thầy Hai cũng đã chia sẻ với chúng ta: “Cuốn Kinh A Di Đà do Phật xuống dạy Đức Ông Tư chép ra. Đây là một Điển Kinh, không phải là một sách kinh bình thường…Phải khai kinh kệ, kẹt hóc trong bản thể trước, mới vô thượng thậm thâm vi diệu pháp… Dùng chữ nghĩa đọc, mệt óc lắm!….Kinh A Di Đà dạy trong cái bản thể, không ngoài….”.

Có được bản scan của cuốn sách này là nhờ công khó của hai bạn đạo trẻ ở quê nhà, nhóm Thư Viện Vô Vi thành thật cảm ơn công đóng góp vô quái ngại của hai bạn ấy.

Để dứt lời, một lần nữa xin trích dẫn lời của Thầy Hai (năm nay đã ngoài 90 tuổi) nhắn nhủ khi chúng tôi trả lại cuốn kinh sau khi đã mượn và chụp hình: “Mong các bạn ở khắp nơi muốn được bằng an và tăng Long Phước Thọ thì ráng thực hành và nghiên cứu thêm.”

Kính chúc tất cả huynh đệ tỉ muội Vô Vi chúng ta tinh tấn và thành công trên đường thực hành và chứng ngộ.  Thành thật cảm ơn sư lưu ý của quý bạn đạo.

Nam Mô A Di Đà Phật Vạn Vật Thái Bình.

Nhóm Thực Hiện Thư Viện Vô Vi.

***

This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

19 Responses to Nam Mô A Di Đà Phật

  1. Kim Quy says:

    TÂY DU LỤC ,Nhớ ơn thầy
    Cổng huỳnh đình, thênh thang đang rộng mở
    Khách viễn hành, bở ngở lướt chân qua
    Núi chập chùng, một dãy chắn xa xa
    mây lớp lớp, trăng tà chen ánh rọi
    Trống đại hùng, điểm vang như réo gọi
    Chuông linh sơn, ngân đổ vẳng từ xa
    Kìa Lầu đài, thành quách thật nguy nga
    Lung linh tỏa, ánh hào quang ngủ sắc
    Ao thất bảo, rạng ngời làn nước biếc
    Diệp từ bi, trải thảm đất lưu ly
    Hoa vô ưu, dập tắt lửa sân si
    Tâm thanh thản, nhẹ nhàng, hương cực lạc
    Chợt cảm thấy ,cỏi lòng như mất mát
    Đả bao năm, lầm lạc, cứ đi xa
    Chẳng nhớ về, thăm đất tổ quê cha
    Mãi say đắm trần gian, tình ,danh,lợi
    Nay hữu duyên,được thầy thương truyền dạy
    Phép nhiệm mầu,tìm lại được lối xưa
    Ôi thân thương, biết nói mấy cho vừa
    Chợt nhận biết.thế gian,là ảo mộng ..
    Còi bồng lai, dang tay xòe cánh rộng
    Vượt trường sơn. bể cả chỉ phút giây
    Thân nhẹ nhàng, vun vút chín tầng mây
    Như cá vượt vũ môn,phùng cam lộ
    Nhớ ơn thầy, nhọc nhằn luôn tận độ
    Cỏi ta bà, đau khổ cứu chúng sanh
    Vâng lời thầy ,con khử trược lưu thanh
    Học chử tử ,cho đời đời con bất tử…

    Kim Quy
    09/05/2016

  2. Pingback: webtoy13.wordpress.com | webtoy13

  3. Pingback: ThaiTa.wordpress.com | Thai Ta's Blog

  4. xaydungvovi says:

    From Other Websites, Meaning of Nam Mo A Di Da Phat:

    http://www.daophatngaynay.com/vn/phap-mon/tinh-do/tinhdo-niemphat/6342-Y-nghia-cua-6-chu-Nam-mo-A-di-da-Phat.html

    http://tangthuphathoc.net/quandiemdg/nct-namidacsh.htm

    http://thienphatgiao.wordpress.com/2014/05/01/y-nghia-cua-cau-nam-mo-a-di-da-phat/

    http://niemphat.net/Kinh/KinhNiemPhat/niemphatcongduc.htm

    http://www.tuvienquangduc.com.au/tinhdo/85chunghiakinhdidacd.html

    http://www.dharmasite.net/KinhADiDa.htm

    ***

    http://caodaigiaoly.free.fr/DiDaDieuPhap.htm

    Ngay trong Pháp Bửu Đàn Kinh diễn giải của Đức Chưởng Giáo Bùi Hà Thanh có ghi lại:

    Nam ấy nam phương lửa bính đinh. / Mô là chỉ rõ vật vô hình. / A gồm nhâm thủy an nơi thận. / Di giữ chặt bền ba báu linh. / Đà sáng sắc vàng tròn khắp cả. / Phật hay thanh tịnh ở nơi mình. / Diệu vi đắc ngộ chân truyền đạo. / Pháp nhiệm thoát trần tự tánh minh.

    ***

    • xaydungvovi says:

      http://www.buddhanet.net/e-learning/history/amithaba-txt.htm
      Who is Amitabha?

      According to Mahayana Buddhist sutras he was a king in the remote period of time. Renouncing his kingdom, he became a monk and was named Dharmakara, which means ‘Treasury of Dharma’. Inspired by the teachings of the then Buddha of that time, Lokesvaraja Buddha, who taught him the way to supreme enlightenment many aeons ago, he made forty eight great vows for the saving of the sentient beings. The Eighteenth Vow, which is the basis of the Pure Land, ran like this: ‘If upon the attainment of Buddhahood all sentient beings in the ten quarters who aspire in sincerity and faith to be reborn in my land, recite my name up to ten times and fail to be born there, then may I not attain the Perfect Enlightenment…’

      Since then, the Bodhisattva Dharmakara, after five aeons of self-cultivation, finally attained the Supreme Enlightenment and became the Buddha Amitabha. This means that his grand and infinitely compassionate vow is now a reality, the paradise known as Pure Land or Sukhavati has been established, suffering beings must and will be delivered if only they will have the full faith to call upon his name.

      Calling the Buddha’s name with full faith is known to the Chinese as ‘NIEN-FWO’ meaning ‘Prayer-recitation’. The Japanese term for this practice is known as ‘Nembutsu’. In this practice three important qualities must be present in the mind: Sincerity, Faith and Aspiration to be reborn in the Pure Land. The simple prayer or formula that one needs to repeat is:

      “NAMO O-MI-TO FWO”

      One may repeat it in Sanskrit ‘Namo Amitabha Buddha’ which literally mans ‘Homage to the Amitabha Buddha ‘ or ‘I seek refuge in the Amitabha Buddha’.

  5. xaydungvovi says:

    From: Trương thế Dũng
    Đức Tổ Sư giảng trong kinh A DI Đà:
    Chữ Phật : Trong Sấm Pháp Lý có câu:
    ” Phật hay thân (thanh) tịnh ở nơi mình” .
    Ông Phật là người,xưa kia cũng ở dương trần như ta,nhưng có tâm tu luyện theo Pháp Lý Vô Vi,do nơi 6 chữ “Nam Mô A Di Đà Phật” mới có đủ kinh quyền,hiểu khắp chư thiên. Người ấy truyền bá Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí để hoằng hóa chúng sanh gọi là Ông Phật.
    Ông Phật có hào quang dị thường hơn người. Chữ Hán viết Nhơn ( ) đứng bằng chữ Phất ( ) . Nhơn đứng là người sanh sanh ,hóa hóa tại thế gian, còn chữ Phất là gió điển lửa gọi là hào quang.Người có hào quang gọi là Phật ( ) không chức tước.
    Người học theo Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí của Phật,tu luyện đúng mức thì trở nên thanh tịnh không còn bị Thập Tam Ma khuấy nhiễu nữa..
    Hoặc là được xuất hồn về cõi thanh tịnh bái yết Phật, nên mới nói là “Phật hay Thân (Thanh) tịnh ở nơi mình”

    Anh Chị Bạn Đạo tự xem và tìm hiểu ….
    Xin cám ơn .Kính chào ,

  6. xaydungvovi says:

    From: Đỗ Phổ Độ

    Bài kệ chữ nam của Sư Tổ

    [Nam] thập phương nam lửa bính đinh
    Cung ly thuộc ngọ ở nơi mình
    Phát ra hừng cháy cùng trời đất
    lặn lại êm ru cả tánh tình
    hiệp một chỗ dường thu nguyệt rạng
    Tăng đời nơi tợ tuyết trong xanh
    khảm ly diên hống hòa hai tám
    hiệp lại một nhà tợ nguyệt tinh

    Tui xin giải nghĩa bài kệ của Sư Tổ.
    “[Nam] thập phương nam lửa bính đinh” Là hướng nam ở trong trận đồ bát quái.
    “Cung ly thuộc ngọ ở nơi mình” Ý nói chỗ đó là cái cửa để xuất hồn ra,
    “Phát ra hừng cháy cùng trời đất” là tu chỗ đó có ánh sáng.
    “lặn lại êm ru cả tánh tình” Là tu tới đó tánh tình nó hiền hay là tánh phải hiền thì mới tu tới đó.
    “Hiệp một chỗ dường thu nguyệt rạng” Là tập trung ở chỗ đó thì nó thấy ánh sáng giống như mặt trăng mùa thu,
    “Tăng đời nơi tợ tuyết trong xanh” Khi bạn nhìn thấy ánh sáng giống như tuyết trong xanh,thì bạn sẽ cảm thấy sung sướng,
    “Khảm ly diên hống hòa hai tám” Cung khảm là hướng bắc của trận đồ bát quái ý nói hai trái thận ở đó, ly là cung ly chỗ hoả luân xa ở chỗ trung tâm chân mày, diên hống là ở đỉnh đầu ở dưới da của bộ đầu khi bạn tu lâu,thường niệm phật vào chỗ đó. Nó sẽ có viên thuốc bằng điển ở chỗ đó. Cho nên câu kệ nầy là bạn đem điển ở hai trái thận lên cửu khiếu tức hoàng diên hống, rồi đem tới trung tâm chân mày trụ ở đó tức là khảm và ly, hai hoà lại ở trung tâm chân mày. còn tám là khi điển lên tới đỉnh đầu nó sẽ tràn ra tám hướng để chạy xuống bản thể lại nhưng hướng nam là trung tâm chân mày là nhiều nhứt,vì hành giả trụ điển ở đó.
    “Hiệp lại một nhà tợ nguyệt tinh” Là gom lại ở trung tâm chân mày thì nó thấy ánh sáng giống mặt trăng.

    Nam Mô A Di Đà Phật.Nam Mô Tổ Sư VO VI Khoa Học Huyền Bí Phật.
    Đỗ Phổ Độ
    Nam Cali.,USA 4/8/ 2014

  7. xaydungvovi says:

    From: Hai-Tan Tran
    Cảm ơn Chị Mỹ Kim chia sẻ.
    Chị phân tích phải lắm. Phật giới thì “thanh tịnh” là hợp lẽ Đạo. Còn Đức Thầy chúng ta dạy là dạy đường lối thực hành thực triển để tiến tới Phật giới thanh tịnh, là phải tịnh từ “thân”, là cũng hợp lý vô cùng, không còn gì để thắc mắc nữa, phải không quý bạn đạo?
    Còn Cụ Liêm sửa đổi kinh của Cụ Tổ như thế nào, chữ nào, bây giờ chúng ta nghe Thầy Hai nói vậy thì hay vậy, chứ cũng chưa thật rõ tường tận chi tiết. Hy vọng theo thời gian, sự dần dà nghiên cứu tìm hiểu thêm của thế hệ chúng ta hay hậu thế, sẽ giúp làm sáng tỏ vấn đề.
    Hiện tại thì từ “thân tịnh” tiến tới “thanh tịnh” cũng là big task cho mỗi hành giả rồi ! Phải không chớ ! Thân chúc cả nhà vui, và thân tịnh! Tâm tịnh! Tai mắt mũi miệng cũng TỊNH !

  8. xaydungvovi says:

    From: Đỗ Phổ Độ, Nam Cali., USA 7/28/2014
    Xin kính chào toàn thể bạn đạo trên thế giới
    Hôm nay tôi xin nói về pháp niệm phật:-
    Niệm phật có nhiều cách niệm khác nhau,nhưng sự công hiệu thì giống nhau.Bạn dùng ý niệm Nam Mô A Di Đà Phật,đó là niệm Phật,Bạn hít thở đúng kỷ thuật là niệm Phật,soi hồn là niệm Phật,tưởng tới Phật là niệm Phật,giữ cho tâm mình thanh tịnh là niệm phật,nghe tiếng điển đúng kỷ thuật là niệm phật,vận chuyển điển đúng kỷ thuật là niệm Phật,dùng trí ý tập trung cho điển chạy là niệm Phật.Tui chỉ nói chừng đó thôi,có lẽ còn sót những thứ khác nữa.
    Bạn thường hay niệm,là thường niệm,
    bạn niệm hoài không ngừng nghỉ,là biệt niệm,
    và vô biệt niệm,là không có niệm.

    Nhứt Cú Di Đà Vô Biệt Niệm,
    Bất Lao Đàn Chỉ Đáo Tây Phương.

    Hai câu thơ của Sư Tổ,Tui xin cắt nghĩa Vô Biệt Niệm.Tất cả những việc tu hành ở trên,chỉ có một mục đích là làm cho nó phát triển điển.Mà cái chỗ nó làm cho phát triển điển là cái cửu khiếu,khi nào cái cửu khiếu nó hoạt động liên tục không dừng lại,thì đó là Vô Biệt Niệm.
    Trạng thái Vô Biệt Niệm. Ở trên đỉnh đầu điển nó rút hoài,từ sáng cho tới tối,từ ngày nầy cho tới ngày khác,từ tháng nầy cho tới tháng khác,từ năm nầy cho tới năm khác.Không bao giờ dừng lại.Vĩnh viễn không dừng lại.Cho nên gọi là Vô Biệt Niệm.
    Đây là những nét đơn sơ,khi một người đã đạt được Vô Biệt Niệm rồi thì vẫn phải tiếp tục niệm,trình độ càng cao bài học cang khó hơn.Nhưng không có nãn chí,vì thấy được sự công bằng của tạo hoá,và biết được tội lỗi của mình cho nên chỉ có lo tu.
    Và bây giờ tui chỉ cho bạn niệm Phật nha.

    Bạn niệm Nam Mô A Di Đà Phật vào hà đào thành thì điển ở thân thể của bạn nó rút lên tới đỉnh đầu,rồi điển ở thiên không nó rút xuống,hoà với điển của bạn nó đem tới trung tâm chân mày tru ở đó cho tới lúc đầy đủ thì sáng ở chỗ đó.
    Bạn phải nhớ đừng có dùng đỉnh đầu phóng điển ra,nó sẽ làm cho bạn mất điển,và đừng có dùng trung tâm chân mày phóng điển ra nó cũng làm cho bạn mất điển.Tu là hút vô trụ cho nó phát triển,chớ không phải phóng ra.Bạn hút vô rồi trược nó sẽ biến thành thanh điển. Tui xin chúc cho bạn gặp nhiều may mắn.Nam Mô A Di Đà Phật.Nam Mô Tổ Sư VoVi Khoa Học Huyền Bí Phật.

    • xaydungvovi says:

      From: Đỗ Phổ Độ

      Xin kính chào các bạn. mỗi câu kệ mỗi lời nói của Sư Tổ đều hàm chứa nhiều sự bí ẩn.Những người tu chưa hiểu không nên suy luận rồi sửa đổi lời nói câu kệ của Sư Tổ.Tui tu được có mô ni châu thì mới hiểu được ” Tăng đời nơi tợ tuyết trong xanh” nếu không có trạng thái như vẫy thì không thể nào hiểu được câu kệ nầy.Tai vì hai cuốn kinh in khát nhau,cuốn chú giải kinh a di đà in “tản đòi như tợ tuyết trong xanh” còn cuốn đời đạo song tu thì in ” Tăng đời nơi tợ tuyết trong xanh”.Không ai có thể dùng trí óc để suy luận ra được.Trăm nghe không bằng một thấy,thấy rồi mới hiểu,hiểu thấm thía rồi mới sợ,sợ rồi thì không dám nói bừa.Cho nên mình thấy có nhiều người nói như con két,nói lẻo lẻo,nói một thời gian rồi im mất,tại gặp cái gì đó sực tỉnh sợ bị phạt,cho nên lo tu không giám nói nữa.Cho nên không nên lấy ý kiến số đông rồi cho đó là lẽ phải,rồi đòi sửa kinh sách của những người đắc đạo.Coi chừng bị phạt.Tui xin chúc cho bạn may mắn gặp nhiều sự tốt đẹp.Nam Mô Tổ Sư Vo Vi Khoa Học Huyền Bí Phật.Nam Mô A Di Đà Phật.

      Đỗ Phổ Độ
      Nam Cali.,USA 8/5/14

      ////////////////////////
      From: Thai Ta
      Trong quá khứ Thái đã từng đọc post của bạn đạo Đỗ Phổ Độ. Phổ Độ chắc là tên hiệu, chứng tỏ lòng độ mình rồi giờ muốn độ tha. Thái có vài nghi vấn nếu có thể xin Huynh giải đáp.
      1. Huynh thật sự nghĩ gì về Thầy Tám? Có phải Huynh cho là Thầy không đúng là đệ tử của Đức Tổ Sư, sửa pháp thiền Vô Vi, sửa lời giảng của Ông Tư?
      2. Huynh thật sự nghĩ gì về cộng đồng Vô Vi theo đường lối Thầy Tám?
      3. Huynh đóng góp trong Diễn Đàn Vô Vi này vì muốn giúp bạn đạo hay muốn tạo danh?
      https://groups.yahoo.com/neo/groups/vovi/info
      ////////////////////////

      From: Đỗ Phổ Độ
      https://groups.yahoo.com/neo/groups/vovi/conversations/messages/7753
      Xin kính chào bạn Thái. Phổ Độ là tên hiệu do bạn đạo VoVi đặt cho tui.Tui xin trả lời 3 câu hỏi của bạn:
      1. Trong 24 năm từ 1983 và gặp Ông Tám 1985 ở Cali.,USA cho tới 2009 ngày Ông Tám qua đời. Tui đã nghe qua hơn 500 cuốn băng cs và video của VoVi nhưng của ông Tám là nhiều nhứt.Và đọc hết bốn cuốn kinh sách của Sư Tổ.Thiên đàng Du Ký,Địa Ngục Du ký. Thượng Đế Giảng Chân Lý.
      Lúc đầu tiên tui tin thượng đế giáng trần là thật,phật vĩ kiên nhập vô Ông Tám là thật.Nhưng tui thấy đường lối tu hành nhiều người nói láo quá.Tui cố nghiên cứu coi thử Sư tổ có dạy cho họ nói láo hay không? Thì thấy không có.Sư Tổ dạy sửa tánh giống y những đạo khác.Còn Ông Tám thì nói láo hết chỗ chê.Từ đó tui không tin Ông Tám nữa,tui tự nghiên cứu kinh sách của Sư Tổ và tu theo đường lối của Sư Tổ dạy.
      Tui đã xuất hồn,có mô ni châu và tới minh tâm kiến tánh.Cho nên muốn chỉ lại cho ai muốn tìm hiểu.
      2. Theo tui nghĩ chỉ có những người tu đúng theo Sư Tổ dạy mới có kết quả xuất hồn được,còn tu theo kiểu Ông Tám niệm phật ở lỗ rún chắc không khá được.Tui nhận thấy Ông Tám không có hiểu đạo.
      3. tui muốn giúp bạn đạo,tui không nghĩ tới danh,cái tui cần là cứu mình và cứu pháp.

      ////////////////////////

      From: Thai Ta
      Cám ơn những câu trả lời của chú nhé. Chúc mừng Chú đã xuất hồn, minh tâm kiến tánh. Có điều, quá trình Thầy Tám học hỏi trực tiếp với Ông Tư, Thái nghĩ là Ông Tư có đủ sáng suốt xem người này là thế nào, có thể phát triển Pháp tu Vô Vi hay không. Những gì Chú viết trên Diễn Đàn này, và qua câu trả lời cho Thái giúp cho Thái thấy sự nguy hiểm của cống cao ngã mạn. Thôi thì tâm làm thân chịu, biết nói sao hơn.

    • xaydungvovi says:

      From: Nguyễn Giang Thanh

      Quí bạn đạo thân mến!
      Qua các email trao đổi của anh Đỗ Phổ Độ và các bạn, em xin có chút ý kiến.

      Theo suy nghĩ của em, nếu tiến tới xuất hồn và hội tụ được Mô Ni Châu thì điển quang đã quân bình, quan điểm trung dung. Không còn chấp thanh trược hay thuận nghịch, hiểu được tất cả đều là chân lý siêu diệu để dẫn tiến tâm linh thì không còn chê trách hay phiền lòng một ai nữa.

      Em có duyên tu Vô Vi và được nhiều sự ân độ và dìu dắt của Đức Thầy Lương Sĩ Hằng – Vĩ Kiên trong hành trình khai triển tiểu thiên địa để trở về nguồn cội. Em thấy có rất nhiều bạn đạo cũng nhờ những lời khuyên của Đức Thầy mà được học hỏi và tiến bộ tốt. Những người em đã gặp ở thế gian này chưa có ai có được sự thực hành gieo gương như Đức Thầy ( hoặc có thể em chưa gặp). Đối với em, Đức Thầy là một người Mẹ từ bi tận độ, người Cha nghiêm khắc và dũng hành, người Thầy thanh tịnh và sáng suốt. Từ trong đáy lòng em luôn có sự chân thành cảm tạ Đức Thầy đã hiến dâng cả cuộc đời cho chúng sinh. Luôn hướng về Đức Thầy với lòng kính yêu vô hạn.

      Vô Vi khai triển Đạo tâm hoà
      Hiểu mình sửa tiến dẹp tâm ma
      Thanh đài xây dựng qui nhất bổn
      Càn khôn qui một chẳng còn xa

      Vài dòng tâm sự gửi tới quí anh chị.
      Chúc quí anh chị luôn vui tiến trong đường Đạo.

  9. xaydungvovi says:

    From: Trương Thế Dũng
    Kính chào anh Đỗ Phổ Độ !
    Câu hỏi tôi đưa ra trong sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật chữ nào có trước có nghĩa là ta phải hiểu trật tự của vòng luân chuyển của Lục Tự,bởi sáu chữ DI ĐÀ được tạo ra bởi THƯỢNG ĐẾ cho nên LỤC TỰ là đại diện cho Càn Khôn Vũ Trụ này.
    Tôi xin mạn phép được trình bày như sau:
    Trong Lục Tự chữ Phật phải có trước tại sao, ta xem qua bài thơ chữ MÔ và chữ PHẬT của Tổ Sư:

    Mô vốn chữ Vô mỗi vật không (khởi đầu chưa có bất cứ một vật gì ).
    Từ thời vô thủy chửa phân đồng (lúc đó chỉ là một khối không không ).
    Rồi sanh hỗn độn bao trùm hết ( bắt đầu có sanh ra gọi là hồng hoang).
    Mới tạo Càn Khôn tỏ một vòng ( ta hiểu là Trời Đất được sinh ra )
    Đạo lý hữu tình sanh vật cả ( nhờ cái Đạo Vạn Vật bắt đầu sinh ra )
    Mẹ Cha ân ái kết thai lòng ( âm dương hòa hợp tạo ra muôn loài ).
    Vật người mới tạo rồi sau diệt (Vật có trước người có sau và sau cùng không còn gì cả )
    Vạn sự đều do chữ Nhứt Không (Vạn sự đều do cái KHÔNG sinh ra ,có câu Nhứt Bổn tán vạn thù,Vạn thù quy nhứt bổn )

    Phật hiệu Kim Cang ở giữa mình ( người có chữ Vạn ở giữa ngực là Phật )
    Hư không Thân tịnh hóa nên hình ( người tu thiền ( tịnh ) đạt đến cái không Mô Ni Châu sẽ xuất hiện ).
    Khuyên người sớm bỏ tham sân bệnh (đó là bước đầu của người tu )
    Thần khí phải gìn giữ rất tinh (phải gìn giữ tinh khí thần ).
    Mười tháng công phu năng luyện tập (…)
    Ba năm công quả khá kiên thành ( hai câu này dành cho người có căn duyên lớn ).
    Trống lòng đầy bụng là giềng mối ( tôi hiểu là phải thở pháp luân thường chuyển cho đúng )
    Vạn sự quy về một chữ THANH.

    Hai câu Vạn sự đều do chữ nhứt KHÔNG và Vạn sự quy về một chữ THANH. Hai chữ KHÔNG và THANH là một đều là KHÔNG ( nhứt bổn tán vạn thù,vạn thù quy nhứt bổn )
    Ta biết PHẬT là KHÔNG cho nên chữ PHẬT có trước ( khởi đầu là KHÔNG rồi mới sinh ra tất cả ) kế đến chữ MÔ ( không khí ) kế đến chữ NAM,và chữ A (lữa và Nước) vạn sự trên đời này phát triển được là nhờ có không khí,nước và lữa, chữ DI gìn giữ muôn loài vạn vật (tinh khí thần) chữ ĐÀ vạn vật phát triển và sau cùng trở về với cái KHÔNG.

    Ở đây xin được bàn thêm về hai câu NAM thật ( thập ) phương nam lữa Bính Đinh và Phật hay thân (thanh ) tịnh ở nơi mình.
    Tại sao tôi chọn là chữ THẬT vì trong bài thơ Lục Tự khởi đầu là câu: NAM thuộc cung Ly lửa Bính Đinh nó cho ta thấy quá rõ ràng Nam thuộc cung Ly (cung Ly trong Bát Quái thuộc hướng Nam và ngủ hành là Hỏa )cho nên Nam THẬT sự chỉ hướng Nam .
    Tôi lại chọn câu Phật hay THÂN tịnh ở nơi mình bởi vì PHẬT là KHÔNG mà KHÔNG hay KHÔNG tịnh thì không có nghĩa cho nên tôi hiểu là THÂN phải tu thiền (tịnh) trong lúc Thiền đạt đến Định thì cái bản thể ta KHÔNG còn thấy nữa.
    Vài điều chia sẽ cùng Anh ĐỘ và ANH chị ,Bạn Đạo mong rằng Anh Chị sẽ dạy tôi nhiều hơn trên con đường tu học. Tất cả Chúng Ta có cơ hội tu theo PLVVKHHBPP Chúng Ta nên thương yêu nhau nhiều hơn vì cuộc sống của mỗi ngươi đều rất quý và cũng rất ngắn ngủi.

    Xin Kính chào.
    Trương Thế Dũng
    TB : Tôi có hai quyển Kinh A Di Đà một quyển có lời giảng của Đức Thầy và quyển kia không có lời giảng cả hai đề dùng chữ THẬT và chữ THÂN……

  10. xaydungvovi says:

    From: My-Kim Thiền Viện Jolicoeur: http://www.tvjolicoeur.jimdo.com
    Các bạn thân mến,
    MK rất vui định làm thợ lặn vì thấy các bạn đã nhất trí về “Nam THẬT phương Nam lửa Bính Đinh”, vì lúc Thầy giải thích câu này hình như chỉ có MK và bà Tám nghe thôi, không có thu băng.

    Nhưng mấy hôm nay Thầy vừa rút điển trên đỉnh đầu MK, lại vừa chiếu sáng lúc MK thiền, nên dù Hải Tân đã tuyên bố kết thúc đề tài thảo luận này, MK vẫn phải suy nghĩ làm sao tìm cho ra cuộn băng có lời Thầy giảng, như MK và Hữu Ân đã có ghi rõ ràng bên dưới (THÂN có tịnh thì mới hiểu được THANH tịnh là gì, THÂN không tịnh làm sao đạt được THANH tịnh), để Thầy khỏi bị những bạn đạo thân thương của Thầy nói là Thầy phát âm không đúng, giọng Thầy bị biến dạng, Thầy nói giọng người Bình Định pha lẫn giọng Quảng Đông, … Thiệt là bất công cho Thầy

    Cho nên MK nhìn vào mấy cuộn băng trước mặt, gần chỗ ngồi thiền trước kiếng Vô-Vi, xem có cuộn nào năm 2000 khoảng tháng 9 hay không, nghĩa là lúc MK từ VN trở qua sau Đại Hội Thanh Tịnh bên Tiệp Khắc. May mắn là có 1 cuộn ghi ngày 3 tháng 9 năm 2000. Loay hoay cả buổi mới nhớ lại cách nghe audio tape cách đây gần 15 năm. Thật là bất ngờ vì đúng là buổi sáng chủ nhật có Thầy trả lời những thắc mắc mà MK đem từ VN qua, trong đó có đoạn ông chú thích tu “THANH tịnh” theo ông bác chứ không thích tu “THÂN tịnh” theo Thầy. Hôm đó có mặt khá đông bạn đạo, bác Vinh và anh Bích đã ra đi, nhưng còn nhiều bạn đạo quen thuộc có thể làm nhân chứng : Phan Cao Thăng, Trần Ngọc Dũng, Thanh Truyền, Kim Anh, Nguyệt Bích, bác Huỳnh Bá gái, chị Thư, chị Hòa, anh Bùi Quang Hiển, Lê Sĩ Tuấn, anh Hoàng, Hoàng (con của Kim Anh), …. Sở dĩ MK phải ghi tên các bạn này ra là vì nghe tới nghe lui mấy lượt 90 phút, đoạn rõ đoạn không, nhưng những câu hỏi về anh Năm Thiện, Phật Thầy Tây An, nhìn mặt trời, … thì có, còn những câu kế tiếp, trong đó cần nghe Thầy nói câu “Xưa nay ai tu cũng muốn THANH tịnh, nhưng THÂN không tịnh làm sao đạt được THANH tịnh ?” thì có lẽ phải qua cuộn băng kế tiếp mà MK tìm hoài không ra, có lẽ vì hôm đó cuộn băng kế tiếp chưa đầy nên chưa được sang ra. Nhưng sẽ không phải là cuộn băng của tuần kế tiếp 10 tháng 9 vì sáng sớm 4 tháng 9 Thầy cho biết sẽ về Atlantic. Sáng nay ở thiền viện Jolicoeur MK chỉ tìm được cuộn băng 30 tháng 9 là gần nhất, nhưng không có đoạn muốn tìm.

    Mong là các bạn trong ban VoViLib chịu khó tìm nghe những cuộn băng từ 3 đến 29 tháng 9 năm 2000. Nếu cần thì liên lạc với anh Phan Cao Thăng, vì khi anh Thăng dọn đi nơi khác làm thiền đường thì đã đem hết những cuộn băng này theo rồi.

    Nhân đây, thành thật cám ơn Tạ Thái, Hữu Ân, Trần Xuân Hiệp, Trương Thế Dũng, … đã quan tâm đến ý kiến của MK.

    Chuyện cứ tưởng quá sức hiển nhiên từ tháng 9 năm 2000 mà tới nay các bạn vẫn chưa nhất trí, đặc biệt có bạn còn có lời lẽ thất kính đối với Thầy. MK rất cảm động khi Hiệp cho biết “Chính tôi cũng giật mình khi khi nghe quí bạn bàn luận rất sôi nổi việc này, vì từ lâu tôi cũng theo thói quen, cứ nghĩ là ” thập phương” và “thanh tịnh”, thiệt không ngờ!”. Như vậy những chuyện bất công xảy ra cho Thầy tại Montreal vào 2 năm 2008-2009 làm sao các bạn phương xa có thể ngờ, khi tin tức được phổ biến qua TBPTĐN mà các bạn đón xem hàng tuần vừa bưng bít vừa bóp méo sự thật dù là trực tiếp liên quan tới Thầy. Mong là quyễn sách ghi lại sử liệu Vô-Vi (thuộc loại “thâm cung bí sử”) do Minh Sơn thực hiện sẽ có ngày được Thầy cho phổ biến. Trong khi chờ đợi, thế nào Minh Sơn cũng bật mí một chút như đã hứa vào dịp khánh thành Thiền viện Qui Hội Tình Người và Đại hội Quy Hội Tình Bạn vào đầu tháng 12 năm nay ở Cairns, Úc châu. Còn chuyện thực hiện Di huấn 2009 của Thầy chắc còn phải chờ cho đến lúc Thầy trở lại …. như đã hứa

    Mỹ Kim

Comments are closed.